Sáng 30/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Hội nghị được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự hội nghị.
Tại điểm cầu Liên đoàn Vật lý Địa chất trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dự Hội nghị có đồng chí Lại Mạnh Giàu – Bí thư Đảng ủy, Liên đoàn trưởng; đồng chí Kiều Huỳnh Phương – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Liên đoàn trưởng; đồng chí Phạm Quang Hưng – Ủy viên BCH Đảng ủy, Phó Liên đoàn trưởng cùng toàn thể các đảng viên trong các chi bộ trực thuộc đảng ủy Liên đoàn.

Toàn cảnh Hội nghị tại điểm cầu Liên đoàn Vật lý Địa chất
Tại hội nghị, các đại biểu được nghe đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ truyền đạt nội dung cơ bản Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Đồng chí Phạm Gia Túc – UVBCT, Phó Thủ tướng thường trực truyền đạt Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị
Các đại biểu dự Hội nghị cũng được xem phim phóng sự “40 năm thu hút đầu tư nước ngoài”. Đồng thời, nghe đại diện lãnh đạo các địa phương và đại diện các doanh nghiệp cũng đã trình bày tham luận về các nội dung như: Đẩy mạnh triển khai Trung tâm tài chính quốc tế, tạo không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới; Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; gắn với phát triển khu thương mại tự do tạo động lực tăng trưởng vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; Vai trò của Doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa; Giải pháp phát triển thị trường vốn để khuyến khích dòng vốn nước ngoài có chất lượng…
Đồng chí Nguyễn Văn Được – Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh trình bày tham luận
Đồng chí Vũ Đại Thắng – Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội trình bày tham luận
Ông TAKUYA SAHASHI – Đại điện Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam trình bày tham luận
Ông MICHAEL KOKALARI – Đại diện Quỹ đầu tư VinaCapital trình bày tham luận
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại Hội nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, chúng ta bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới. Tinh thần của Nghị quyết 10 đã chỉ rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Đồng chí TÔ LÂM – Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Do đó, cần tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, cũng phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Các địa phương có khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng, hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực.
Nguồn: Liên đoàn Vật lý Địa chất./.